Phân tích nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành



PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT T NÚ

 

- Cuộc sống thành một vòng luân hôì với thói quen được lặp đi lặp lại, và với cánh rừng xà nu này, tiếng đaị bác, mảnh đạn văng, khói thuốc súng sọc vào mũi, những tiếng kêu thé trong đau đớn, những tiếng gầm trong oán hận hay sự im lặng sau tất cả, giờ đã trở nên quen thuộc. Con người rôì sẽ dần thích nghi, mà lẹ hơn đó là thiên nhiên. Rừng xà nu thay da đổi thịt nhanh hơn bao giờ hết, không phải vì chu kì thiên nhiên thay đổi mà là kia, tiếng máy bay gầm rú, những nòng pháo đỏ hỏn ngun ngút khói; đó mới chính là nguyên nhân cho sắc xanh mới mỗi ngày của khu rừng này. Và quyện lấy nhau, con người hòa cuộc đời mình vào những mảng xanh đó, dân làng Xô man đã ở đây, nhúng máu thịt mình vào đất đen mun của rừng.

 

 

 

 

- T’nú xa làng đã lâu. Hãy nói lâu theo nghĩa của tinh thần, hãy nói lâu theo tình cảm của đứa con xa vòng tay cha mẹ, hãy nói lâu theo nổi đau chia lìa mãi của lứa đôi và hãy nói lâu theo thang bậc đau đớn nhất của người sống với một nửa cuộc đời bị tàn phá. Thời gian trôi, con người vốn mượn nó để phũ lên quá khứ, che đâỵ khi quá khứ bi thương, hay tăng thêm phần phấn khích cho quá khứ oai hùng, thì ở đây nơi T’nu, ta gặp lại tất cả.

 

 - Rôì cách mạng tìm đến anh, hay anh tìm đến cách mạng ? Cánh tay câù cứu vùng vâỹ ra hay cánh tay cưú cánh chụp lâý ? Hay đó là duyên nợ đau đớn cho cả hai cá thể âý tìm thấy nhau ? Chiến tranh là nợ để duyên kia kết thành. Hãy nhìn vào bản thân rôì nhìn vào T’nu, có ai muốn mình trở thành anh hùng ? Chúng ta đau, chúng ta khổ, chúng ta chết, nhưng đó là bản thân chúng ta, chúng ta chịu được. Nhưng người yêu thương, xóm làng đó, từng mái nhà, bậc thang, từng tiếng chày, tiếng suối; quen thuộc đến nằm lòng, để rôì bặt im lặng, biến mất đi trong ngỡ ngàng; những điều âý ai chịu được ?

 

- Phải vùng dâỵ thôi, làm cách mạng, chúng ta làm cách mạng. Và hôm nay anh về, thăm làng, chỉ một đêm thôi, nhưng hơi ấm của khói của lòng người, hay sự nức nở của quá khứ hiện về làm cay cay cả mắt, cay cay cả sóng mũi. Dân làng vẫn như thế, như người mẹ luôn choàng lấy đưá con cho dù nó lấm lem, cho dù nó thay đổi. Đêm cũng chính là lúc chúng ta gần nhau. Trời lạnh mà, ông trời cũng khéo cho con người biết củi, biết chụm lửa, để ngôì quay quầng. Đông đủ cả, những thế hệ, nhiều con người : cụ Mếch, T’nu, Dít, Heng; họ ngôì đây, bên nhau.

 

 

- Hãy nói lên sự khác nhau ? Không. Hãy nói lên sự tương đồng ? Nhiêù. Cùng một tình yêu, cùng một dòng máu; hãy bỏ qua khác biệt tuổi tác và giới tính, hãy nghĩ đến cái chung; họ thấm nhuần cách mạng và một khi đã là đồng chí, chúng ta đã là một. Cụ Mết sừng sững giữa đêm, như hồn thiêng núi rừng, cụ dạy bảo những mầm non kia, vạch rõ con đường cho những ai chập chững và nới rộng niềm tin cho những ai đang bước trên con đường đó.

 

 

- Hãy nhìn họ từ xa, xa thêm nưã để rôì thấy họ chỉ như một vòng tròn quanh lửa đỏ, họ là một, một vòng tròn đầy đặng như niềm tin tuyệt đôí không lung chuyển của cả một thế hệ cho cách mạng. Cách mạng là lửa, sưởi ấm lòng con trẻ qua những khoảng đen của lịch sử.

 

 

- Giọng cụ Mết vẫn vang lên, rung động quá khứ, cộng hưởng cả vào hiện tại và tương lai. Thế nào là anh hùng cách mạng ? Hãy nhìn vào họ, từng ánh mắt như bị hút sâu vào dòng tư tưởng của cụ Mếch, hãy nhìn kĩ họ, từng độ tuổi, từng màu tóc có khác nhưng tất cả họ xứng là là anh hùng cả. Một đưá trẻ vót chông miệt mài hay băng suối băng rừng với đôi chân nhỏ thì khác gì vơí người trưởng thành xông pha nơi trận mạc ? Cụ Hồ từng nói : người lớn làm việc lớn, nguơì nhỏ là việc nhỏ. Vị tất thảy là bảo vệ cho cái mình yêu thương, bảo vệ cho niềm tin, hạnh phúc và bất cứ lúc nào cần thiết, họ phó mặt tính mạng, điều đó chẳng phải cao quí lắm sao ?

 

 

- T’nu đi "lực lượng", rôì sẽ có nhiều bước chân theo bước chân mở đường đó. Họ đi vì họ học từ quá khứ, không để quá muộn để rôì tận mắt nhìn vợ con mình chết, không để quá muộn để bị đàn áp đến đường cùng. Họ đi vì họ biết nhìn về tương lai, sau đường chân trời xa tít tắp của các tán xà nu đủ sắc xanh âý, mặt trời vẫn mọc lên một màu đỏ chót. Họ thấy đó như máu trong tim vẫn đều đặng dồn khắp cơ thể, họ thâý đó như niềm tin bất diệt vào con đường họ chọn. Chỉ có cách mạng, như một thực thể sống, cùng sống cùng chết với vận mệnh quốc gia. Ngã xuống hay đứng lên, bước tiếp hay mãi yên nghỉ, tất cả họ đêù là anh hùng.

 

 

Lịch sử nhớ họ, sẽ có rất nhiêù sẽ hi sinh, nhưng một nước Việt tự do độc lập sẽ là minh chứng hùng hồn cho sự hi sinh to lớn đó, hãy nhớ đến họ, để rôì mỗi khi nhắc đến chúng ta chỉ đơn giản gọi : những anh hùng.

 

 

PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG RỪNG XA-NU BIỂU TƯỢNG CỦA SỰ BẤT DIỆT

 

 

 

 

 

Nguyễn Trung Thành là nhà văn có duyên nợ gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên. Qua hai cuộc kháng chiến cùng vào sinh ra tử với những người dân nơi đây đã cung cấp cho Nguyễn Trung Thành một vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng về mảnh đất âm vang rộn tiếng cồng chiêng trong mùa lễ hội, nơi có những người con trung dũng, kiên cường. Nếu trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trung Thành – bút danh Nguyên Ngọc nổi tiếng cùng “Đất nước đứng lên”; thì trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là những năm 1965 khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam đang diễn ra gay go ác liệt thì Nguyễn Trung Thành cho ra mắt người đọc truyện ngắn “Rừng xà nu”. Tác phẩm này đã là một bản hùng ca, ca ngợi cuộc sống và con người Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh vĩ đại. Và nổi bật hơn cả trong tác phẩm chính là hình tượng cây xà nu.

 

 

Cây xà nu là một hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Xuyên suốt trong tác phẩm ta bắt gặp những cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Cây xà nu là một loài cây quen thuộc, có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân Tây Nguyên. “Củi xà nu cháy trong mỗi bếp lửa gia đình, khói xà nu nhuộm bảng đen cho con trẻ học chữ, đuốc xà nu rọi sáng sân nhà Ưng trong những đêm lễ hội…”. Tất cả mọi hoạt động dù lớn dù nhỏ của người dân Tây Nguyên đều có sự góp mặt của cây xà nu. Sự sống của dân làng Xô Man đều gắn liền với những cánh rừng xà nu.

 

 

Khi Nguyễn Trung Thành viết : “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc, chúng nó bắn đã thành lệ, ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn”, nhà văn đã phản ảnh không khí căng thẳng của thời đại, gợi lên sự đối mặt quyết liệt giữa sự sống và cái chết. Nổi bật trên nền bối cảnh ấy, Nguyễn Trung Thành đã đi sâu miêu tả những đặc điểm nổi bật của câu xà nu. Cũng như bao loài cây khác, cây xà nu là một loài cây ham ánh sáng và khí trời “trong rừng ít có loài cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ đến vậy… ít có loài cây nào ham ánh sáng đến thế” cũng có nghĩa là ham sống, khao khát muốn được vươn lên giữa bầu trời cao rộng.

 

 

Thế nhưng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, cũng như bao cánh rừng khác của Việt Nam, rừng xà nu đã bị tàn phá rất dữ dội “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão; ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm lại đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Tuy vậy, bất chấp mọi sự tàn phá huỷ diệt của chiến tranh, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt “cạnh cây mới ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Tư thế vươn lên mạnh mẽ ấy của cây xà nu như để thách thức với bom đạn của chiến tranh “đố chúng nó giết được cây xà nu đất ta”. Sức sống mãnh liệt đã giúp những cánh rừng xà nu vươn lên trong một màu xanh, hiện lên hiên ngang, kiêu dũng như một tráng sĩ “cứ thế hai ba năm sau, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng Xô man”.

 

 

Bằng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, Nguyễn Trung Thành đã dựng lên thật thành công và rõ nét, ấn tượng về hình tượng cây xà nu. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trung Thành còn đặt hình tượng cây xà nu vào trong quan hệ đối chiếu sóng đôi với con người mảnh đất Tây Nguyên. Nếu cây xà nu là một loại cây ham ánh sáng và khí trời, thì người dân Tây Nguyên yêu tự do, tin vào Đảng, đi theo bước chân cách mạng như muôn cây vẫn hướng vào ánh sáng mặt trời. Nếu cây xà nu bị tàn phá, huỷ diệt bởi đạn bom, khói lửa thì những người dân Tây Nguyên phải chịu bao đau thương mất mát do chính kẻ thù gây ra. Bao nhiêu người bị giặc giết chết như những cây xà nu bị chặt đứt ngang nửa thân mình, bao nhiêu người còn sống mà phải mang trong mình bao nỗi thương đau. Bằng cách miêu tả hình ảnh cây và người trong quan hệ sóng đôi như thế, Nguyễn Trung Thành đã khắc sâu tội ác dã man của kẻ thù để qua đó tác giả giúp ta hình dung rõ hơn những thảm cảnh dân ta phải chịu do bọn giặc gây ra.

 

 

Cũng giống như những cánh rừng quê hương, như những con người Việt Nam vẫn ý thức được rằng:

 

 

“Gươm nào chia được dòng Bến Hải

Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn

Căm hờn lại giục căm hờn

Máu kêu trả máu đầu van trả đầu”

 

 

Các thế hệ nhân dân Tây Nguyên đã thay nhau tiếp nối đứng lên. ánh sáng của niềm tin “Đảng còn thì núi nước này còn” đã soi đường chỉ lối cho những bước chân đến với cách mạng. Thế hệ này ngã xuống, thế hệ sau tiếp nối đứng lên; anh Sút bà Nhan bị giặc giết, đi thay họ tiếp tế nuôi quân đã có TNú và Mai. Cứ như thế, các thế hệ người Tây Nguyên đã thay nhau giữ vững ngọn lửa truyền thống, thay nhau giữ vững ý chí đánh giặc kiên cường, để giữ làng, giữ nước của dân làng Xô man nói riêng và của người Tây Nguyên nói chung.

 

 

Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Trung Thành, cây xà nu hiện lên sừng sững, đồng hành với những bước đi, cuộc sống của dân làng Xô man. Gắn bó với cánh rừng anh dũng, kiêu hùng, những người dân Tây Nguyên như được tiếp thêm sức mạnh để đứng lên chiến đấu. Và gắn bó với con người Tây Nguyên ân tình, thuỷ chung, trung dũng như thế. Cây xà nu cũng luôn luôn sánh bước cùng họ để họ có cuộc sống bình yên hơn; để “hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn” chứ không nhằm vào những người dân vô tội lầm than.

 

 Cây xà nu là hình tượng mang đậm chất lý tưởng, tiêu biểu cho phẩm chất, số phận của người dân Tây Nguyên. Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm mang đậm chất sử thi, tính hào hùng, nó làm rõ chủ đề tư tưởng của truyện ngắn “Rừng xà nu”. Để xây dựng một hình tượng xà nu như thế, Nguyễn Trung Thành đã sử dụng những câu văn miêu tả, những từ ngữ, hình ảnh chọn lọc đặc sắc, cùng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, giọng văn miêu tả trong tác phẩm rất linh hoạt.

Có đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp hình tượng cây xà nu. Hình tượng này đã góp phần tạo nên một “Rừng xà nu” trọn vẹn, mang đậm giá trị văn học. Nguyễn Trung Thành đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học dân tộc.

 

PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG CÂY XÀ NU

 

I.Mở bài

 

 

Rừng xà nu là truyện ngắn xuất xắc của Nguyễn Trung Thành (tức Nguyễn Ngọc) cũng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học Việt Nam chống Mỹ, cứu nước.

 

 Bên cạnh những anh hùng và tập thể anh hùng, ở Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành còn sáng tạo nên một hình tượng nghệ thuật mang tính biểu trưng cho sức mạnh của dân tộc và nhân dân ta trong cuộc kháng chiến vĩ đại. Đó chính là hình tượng cây xà nu.

 

 

II.Thân bài

 

 

2.1. Cây xà nu – biểu tượng về dân làng Xô Man, của người Tây Nguyên:

 

- Đọc truyện ngắn Rừng xà nu, người ta thấy cây xà nu, rừng xà nu như chính dân làng Xô Man, như người dân Tây Nguyên trên núi rừng trùng điệp. Có lẽ vì thế, nàh văn Nguyễn Trung Thành đã đặt tên cho tác phẩm của mình là Rừng xà nu, đã mở đầu vầ kết thúc tác phẩm cũng chính bằng hình ảnh của cây xà nu:

 

Làng ở trong tầm đại bác của giặc… hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương…

 

 

Và:

sklgsdjbjksdkgsdkgsdg

 

Ba người đứng ở đây nhìn ra xa. Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì ngoài những Rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời.

 

 Hình ảnh cây xà nu còn xuất hiện ở mọi lúc mọi nơi. Nó hoá thành ngọn lửa trong bếp mỗi gia đình, mỗi nhà, trong đống lửa nhà ưng khi dân làng tập trung lại. Nó làm ánh đèn cho Tnú và Mai học chữ. Nó rần rật cháy trên đường cụ Mết và dân làng vào rừng tìm vũ khí. Nó cháy bừng căm thù trên đôi bàn tan Tnú. Nó hừng hực trong đêm dân làng vùng lên giết giặc… Đấy là một hình tượng nghệ thuật mang tính ẩn dụ. Nhà văn đã nhân cách hoá cây xà nu trở thành một biểu tượng về con người.

 

2.2.Cây xà nu – chứng nhân của tội ác quân thù

 

 Mở đầu tác phẩm là hình tượng hàng trăm, hàng ngàn cây xà nu bị những mảnh đạn của giặc giày xéo:

 

Cả Rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bám lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn.

 

 

Rừng xà nu bị tàn hại như vậy vì cũng như dân làng Xô Man của Tnú, nó đang ở trong tầm đại bác của giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở lại gà gáy. Nhà văn có thể không sừng lại miêu tả hết những tội ác của quân giặc đối với dân làng Xô Man, bởi hình ảnh rừng cây kia đã nói lên tất cả. Rừng xà nu cũng như dân làng đều cùng chung số phận!

 

 

2.3.Cây xà nu – biểu trưng về phẩm chất, khát vọng của người dân làng Xô Man.

 

 

Vì mang tính biểu trưng nên trong suốt tác phẩm, mỗi khi miêu tả cây xà nu, nhà văn Nguyễn Trung Thành luôn đối ánh nó với dân làng Xô Man.

 

 

Cây xà nu có sức sống mãnh liệt Trong rừng ít có loại cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây non mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời… Ngay trong làn đạn hằng ngày, hằng đêm của quân thù, cây xà nu vẫn vương lên, không gì quật ngã đựơc: Có những cây vượt lên đựoc đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Cú thế, lớp này ngã xuống đã có năm bảy lớp cây khác lớn lên, trùng trùng điệp điệp đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời. Rừng xà nu trở thành một dũng sĩ ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng.

 

 Đọc Rừng xà nu không ai không liên tưởng đến sự gắn bó, sóng đôi giữa cây xà nu và những tập thể anh hùng ở làng Xô Man và cả Tây Nguyên. Anh Quyết hy sinh, đã có Tnú cường tráng. Chị Mai ngã xuống lại có cô Dít đầy nhựa sống. Khi Tnú bị bắt, bị hành hạ, tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây gậy sáng loáng đạp lên sàn nhà ưng ào ạt vượt lên trả thù. Khi Tnú vào quân giải phóng, cậu bé Heng, mới mấy năm, đã khôn lớn nhanh như thổi, thay thế anh làm người liên lạc… Dân làng Xô Man như rừng cây xà nu, dưới làn mưa bom bão đạn của quân thù, như lợi cụ Mết, vẫn sống đấy, không có gì mạnh bằng, cây mẹ ngã, cây con mọc lên, đố nó giết hết rừng xà nu này!

 

III.Kết luận

 

 

Rừng xà nu trong truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành không thuần tuý là rừng cây đặc trưng của làng Xô Man trên dải Trường Sơn hùng vĩ. Đó còn là hình tượng ẩn dụ về chính con người ở nơi khác nghiệt của cuộc chiến tranh chống quân xâm lược. Bao con người trong những năm tháng gian lao ấy vẫn còn sống, ngoan cường, bền bỉ và kiêu hãnh. Cho dù cuộc chiến tranh khốc liệt kia đã đi qua, nhưng hình tượng nghệ thuật đó vẫn rất giàu sức sống, vẫn như một lời nhắc nhở về những phẩm giá tốt đựp của con người.