Khái quát về tác giả Tố Hữu


 

 I. Cuộc đời

Nhà thơ Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920 tại làng Phù Lai, gần cố đô Huế. Tố Hữu đến với thi ca khá sớm, từ năm 18 tuổi. Cùng năm đó, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4/1939, ông bị quân Pháp bắt. Tháng 3/1942, ông vượt ngục Đác Glây, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Thanh Hóa. Cách mạng tháng Tám, Tố Hữu làm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Huế.




Quê hương xứ Huế nghèo nhưng phong cảnh thiên nhiên nên thơ, lãng mạn, một vùng văn hóa phong phú độc đáo góp phần tạo nên hồn thơ Tố Hữu.


Tuổi trẻ của ông có sự gặp gỡ may mắn đẹp đẽ với lí tưởng cách mạng. Từ đó ông hoạt động tích cực hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng. Bị địch bắt  giam Tố Hữu vượt ngục trốn ra ngoài liên lạc với tổ chức cách mạng tiếp tục hoạt động.


Ông giữ nhiều cương vị quan trọng trong các tổ chức cách mạng như Chủ tịch ủy ban Khởi nghĩa (1945), Bí thư tỉnh Thanh Hóa. Bí thư Tư Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng…
Ở Tố Hữu con người chính tri và con người thơ ca thống nhất làm một. Ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nghệ thuật năm 1996.


II. Sự nghiệp văn học


Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng nên các chặng đường thơ cũng song song với các giai đoạn của cuộc đấu tranh ấy, đồng thời thể hiện sự vận động tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ.


Từ Ấy (1937-1946)
Gồm 71 bài thơ chia 3 phần: “Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng”.
Nội dung:
·        Thể hiện tiếng reo náo nức khi gặp lí tưởng (Từ ấy)
·        Tâm trạng buồn sầu cô đơn, khao khát tự do (tâm tư trong tù).
·        Là bài ca chiến đấu kiên cường bất khuất ( Chăng chối)
·        Niềm tin vào chiến thắng, tương lai tươi sáng.


Việt Bắc (1946 – 1954)
·        Ca ngợi nhân dân (em bé liên lạc, bà mẹ chiến sĩ, lãnh tụ vệ quốc quân…)
·        Ca ngợi cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc và niềm vui chiến thắng.


Gió lộng (1955 – 1961)
Ca ngợi cuộc sống mới, con người mới ở miền Bắc XHCN và nỗi niềm đau nhớ miền Nam.


Ra trận (1962 – 1971); Múa và hoa (1972- 1977)
Là khúc ca ra trận, mệnh lệnh tiến công cổ vũ chiến đấu.


Ca ngợi Hồ Chí Minh (Bác ơi, Theo chân bác..)


Một tiếng đờn (1992); Ta với ta (1999)
Giọng điệu thâm trầm đượm chất suy tư sau những thăng trầm của nhà thơ và thời đại.



III. Phong cách nghệ thuật


-         Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình cách mạng chính trị, quan tâm đến thể hiện những vấn đề lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn, cách mạng và con người cách mạng.


Khuynh hướng sử thi nổi bật trong những sáng tác thơ cuối cuộc kháng chiến thực dân Pháp trở về sau ”với Tố Hữu tả tình hay tả cảnh, kể chuyện mình hay kể chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay một sự việc nhỏ …cốt là để nói cho được cái lí tưởng cộng sản ấy thôi (Chê lan Viên) . Hay như Xuân Diệu nhận xét ”Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”


Thơ Tố Hữu đề cập đến những vân đề lớn của thời đại:(Kháng chiến chống Pháp, Mĩ), nhân vật trữ tình là một con người tiêu biểu cho phẩm chất chung của cộng đồng, nhà thơ dùng những lời lẽ đẹp nhất, trang trọng nhất để ca ngợi.


-         Thơ Tố Hữu tràn đầy cảm hứng lãng mạn, luôn hướng người đọc tơi một chân trời tươi sáng:
Ta lại về ta, những đứa con
Máu hòa trong máu, đỏ như son.
Sài Gòn ơi, Huế ơi! Xin đợi
Tái hợp, huy hoàng, cả Nước non!
(Máu và hoa)
Hay
Rét nhiều nên ấm nắng hanh
Đắng cay lắm mới ngọt lành đó chăng?
Giã từ năm cũ bâng khuâng
Đã nghe xuân mới lâng lâng lạ thường!
( Bài ca Xuân 61)


-         Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình, ngọt ngào, tha thiết – giọng của tình thương mến.
Nhiều vấn đề chính trị cách mạng đã được thể hiện như những vấn đề của tình cảm muôn đời.
Kế thừa giọng điệu của ca dao dân ca với giọng hò mái nhì, mái đẩy của quê hương xứ Huế. Lời thơ thường bắt đầu bằng tiếng gọi “ơi, “hỡi” nghe rất ngọt ngào tha thiết.
Thơ dễ rung động với nghĩa tình cách mạng, hướng tới đồng bào, đồng chí mà kêu gọi nhắn nhủ.


- Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc.
Nội dung thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của dân tộc Việt nam (ân nghĩa, thủy chung, là nghĩa tình cách mạng, đồng bào đồng chí)
Nghệ thuật biểu hiện là kế thừa thể thơ  lục bát, song thất lục bát của dân tộc. Thi liệu truyền thống được sử dụng nhuần nhuyễn, ngôn từ giản dị, vần điệu phong phú, nhạc tính dồi dào…